Quản lý đầu tư ứng dụng CNTT từ nguồn ngân sách nhà nước: Phân định rõ dự án chi đầu tư công và nhiệm vụ chi thường xuyên
6 giờ trước | Lượt xem: 86 In bài viết |Nghị định số 45/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước là căn cứ quan trọng trong tổ chức triển khai các dự án, nhiệm vụ ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước. Trong đó, Chương II và Chương III là hai nhóm nội dung trọng tâm, giúp phân định rõ việc quản lý dự án sử dụng vốn chi đầu tư công và hoạt động ứng dụng CNTT sử dụng kinh phí chi thường xuyên.
Ngày 26/01/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2026/NĐ-CP quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan, đơn vị tổ chức quản lý, triển khai hoạt động đầu tư ứng dụng CNTT theo đúng trình tự, thủ tục, nguồn vốn và tính chất nhiệm vụ.
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang được đẩy mạnh trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, việc quản lý đầu tư ứng dụng CNTT không chỉ dừng ở yêu cầu mua sắm thiết bị, phần mềm hay thuê dịch vụ kỹ thuật, mà còn gắn trực tiếp với hiệu quả sử dụng ngân sách, khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và vận hành bền vững các hệ thống số. Vì vậy, Nghị định số 45/2026/NĐ-CP có ý nghĩa thiết thực trong chuẩn hóa quy trình quản lý, từ khâu chuẩn bị đầu tư, lập báo cáo, thiết kế, thẩm định, phê duyệt đến triển khai, nghiệm thu, quyết toán và đưa sản phẩm vào khai thác, sử dụng.
Một trong những nội dung trọng tâm của Nghị định là Chương II – Quản lý dự án đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng vốn ngân sách nhà nước chi cho đầu tư công. Chương này quy định các loại dự án đầu tư ứng dụng CNTT gồm: dự án đầu tư hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu; dự án mua sắm; và dự án thuê dịch vụ CNTT. Các dự án này được thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công và các quy định chuyên ngành tại Nghị định số 45/2026/NĐ-CP.
Chương II có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các cơ quan, đơn vị được giao làm chủ đầu tư hoặc tham gia quản lý, triển khai dự án CNTT. Nội dung Chương này giúp làm rõ toàn bộ quy trình đầu tư dự án, gồm 03 giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư. Ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, cơ quan, đơn vị phải thực hiện các nội dung như: Lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư nếu thuộc trường hợp phải quyết định chủ trương đầu tư; lập, thẩm định, quyết định đầu tư dự án. Ở giai đoạn thực hiện đầu tư, tùy từng loại dự án, các nội dung như thiết kế chi tiết, lựa chọn nhà thầu, triển khai, giám sát, kiểm thử, vận hành thử, đào tạo, nghiệm thu, bàn giao được thực hiện theo quy định. Giai đoạn kết thúc đầu tư bao gồm bảo hành sản phẩm đối với dự án đầu tư hệ thống và dự án mua sắm, quyết toán vốn đầu tư và phê duyệt quyết toán.
Đáng chú ý, Nghị định cũng quy định cụ thể về thiết kế dự án đầu tư ứng dụng CNTT. Việc thiết kế được thực hiện theo 01 bước hoặc 02 bước; thiết kế 01 bước gồm thiết kế chi tiết, thiết kế 02 bước gồm thiết kế cơ sở và thiết kế chi tiết. Theo quy định, thiết kế 01 bước được áp dụng đối với dự án có tổng mức đầu tư không quá 20 tỷ đồng hoặc trường hợp khác nếu được cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép; thiết kế 02 bước áp dụng đối với các dự án không thuộc trường hợp thiết kế 01 bước. Đây là nội dung có giá trị hướng dẫn nghiệp vụ cao, giúp các đơn vị xác định đúng quy trình thiết kế, hồ sơ, căn cứ lập dự toán và tổ chức triển khai dự án.
Bên cạnh Chương II, Chương III – Quản lý hoạt động ứng dụng CNTT sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước là nội dung cần được nghiên cứu song song để tránh nhầm lẫn giữa hai nguồn kinh phí. Nếu Chương II điều chỉnh các dự án đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng vốn chi đầu tư công, thì Chương III tập trung vào các hoạt động ứng dụng CNTT sử dụng kinh phí chi thường xuyên. Đối với một số hoạt động được phân bổ dự toán kinh phí chi thường xuyên, việc tổ chức thực hiện mua sắm, thuê dịch vụ và sử dụng kinh phí được thực hiện theo pháp luật về ngân sách nhà nước, đấu thầu, quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan.
Việc phân định rõ giữa dự án chi đầu tư công và nhiệm vụ chi thường xuyên có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn. Đây là cơ sở để các Vụ, đơn vị xác định đúng loại nhiệm vụ, đúng nguồn vốn, đúng trình tự thủ tục, tránh tình trạng áp dụng nhầm quy trình quản lý đầu tư công cho hoạt động chi thường xuyên hoặc ngược lại. Đồng thời, sự phân định này cũng giúp nâng cao trách nhiệm của đơn vị đề xuất, đơn vị chuyên môn, chủ đầu tư và các bộ phận tham mưu trong quá trình xây dựng kế hoạch, lập dự toán, tổ chức lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, thanh toán và quản lý sản phẩm, dịch vụ CNTT.
Đối với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, việc nghiên cứu, phổ biến và áp dụng đúng Nghị định số 45/2026/NĐ-CP có ý nghĩa thiết thực trong triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển hệ thống thông tin, thuê dịch vụ CNTT và các hoạt động ứng dụng công nghệ phục vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. Các quy định của Nghị định là căn cứ để nâng cao tính thống nhất, chặt chẽ, minh bạch trong quản lý đầu tư ứng dụng CNTT, đồng thời góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực ngân sách nhà nước.
Nhằm hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức và các đơn vị liên quan thuận tiện trong nghiên cứu, khai thác, Cổng Thông tin điện tử Bộ Dân tộc và Tôn giáo giới thiệu bộ infographic tóm tắt một số nội dung trọng tâm của Nghị định số 45/2026/NĐ-CP, tập trung vào quy trình quản lý dự án đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng vốn ngân sách nhà nước chi đầu tư công. Bộ tài liệu infographic này có tính chất tham khảo, phục vụ nghiên cứu nhanh; không thay thế toàn văn Nghị định số 45/2026/NĐ-CP và các văn bản pháp luật có liên quan.
*Xem tài liệu infographic tại đường link phía dưới
Xuân Thường

