Phê duyệt CTMTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển KTXH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

2 giờ trước |   Lượt xem: 27 |   In bài viết | 

Theo đó, giai đoạn I, từ năm 2026 đến năm 2030 là giai đoạn then chốt, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển nông thôn hiện đại, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN).

Phấn đấu nâng thu nhập bình quân người dân nông thôn gấp 2,5-3 lần so với năm 2020

Theo Quyết định số 417, Chương trình đặt ra mục tiêu tổng quát là xây dựng nông thôn mới hiện đại, giàu đẹp, có bản sắc, bền vững, gắn với quá trình đô thị hóa và thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm và bền vững, bảo đảm bình đẳng giới và an sinh xã hội.

Điểm nhấn quan trọng của Chương trình là định hướng phát triển kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn, sinh thái, gắn chặt với cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Thông qua đó, từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn, đặc biệt là vùng đồng bào DTTS&MN - khu vực còn nhiều khó khăn, chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt.

Không chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế, Chương trình còn đặt trọng tâm vào giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, củng cố niềm tin của đồng bào đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; qua đó tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, nhất là tại các địa bàn chiến lược, biên giới và hải đảo.

Đến năm 2030, Chương trình đề ra các chỉ tiêu cụ thể, phản ánh rõ mục tiêu nâng cao chất lượng phát triển. Trong đó, thu nhập bình quân của người dân nông thôn phấn đấu tăng gấp 2,5-3 lần so với năm 2020; thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số đạt bằng một nửa mức bình quân chung của cả nước.

Về giảm nghèo, Chương trình đặt mục tiêu duy trì tốc độ giảm nghèo đa chiều của cả nước từ 1-1,5%/năm, đồng thời giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào DTTS&MN xuống dưới 10%; phấn đấu cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn tại khu vực này.

Trong xây dựng nông thôn mới, phấn đấu khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó khoảng 10% số xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại; đồng thời có 05 tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Các chỉ tiêu này thể hiện sự chuyển dịch từ “đạt chuẩn” sang “nâng cao chất lượng, chiều sâu và tính bền vững”.

Hai hợp phần, một mục tiêu thống nhất

Chương trình được thiết kế với hai hợp phần, bảo đảm vừa đồng bộ trên phạm vi cả nước, vừa giải quyết trúng và đúng các vấn đề đặc thù của vùng đồng bào DTTS&MN.

Hợp phần thứ nhất bao gồm các nội dung chung thực hiện trên địa bàn cả nước, với 10 nội dung thành phần và 52 nội dung cụ thể. Hợp phần này tập trung vào hoàn thiện quy hoạch, phát triển hạ tầng thiết yếu, kinh tế nông thôn, nguồn nhân lực, môi trường và chuyển đổi số. Trong đó, việc ứng dụng công nghệ số, GIS trong xây dựng và quản lý quy hoạch nông thôn mới là bước tiến quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và sử dụng tài nguyên.

Hợp phần thứ hai là các nội dung đặc thù phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN, gồm 05 nội dung thành phần với 23 nội dung cụ thể, tập trung giải quyết những tồn tại kéo dài như thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất; hỗ trợ sinh kế bền vững; đầu tư các công trình lưỡng dụng phục vụ dân sinh gắn với quốc phòng, an ninh; bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch.

Việc phân định rõ hai hợp phần nhưng có sự liên thông, bổ trợ lẫn nhau giúp Chương trình tránh chồng chéo, đồng thời bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực, phù hợp với điều kiện từng vùng, từng địa phương.

Nguồn lực lớn, phân công rõ trách nhiệm

Trong giai đoạn 2026-2030, tổng ngân sách nhà nước bố trí cho Chương trình khoảng 423.000 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương là 100.000 tỷ đồng, ngân sách địa phương khoảng 300.000 tỷ đồng, vốn tín dụng chính sách khoảng 23.000 tỷ đồng.

Tổng mức vốn huy động thực hiện Chương trình trong giai đoạn này dự kiến lên tới khoảng 1,044 triệu tỷ đồng. Cơ cấu nguồn lực cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa vai trò dẫn dắt của Nhà nước và huy động nguồn lực xã hội, trong đó vốn ngân sách Trung ương chiếm 9,6%, ngân sách địa phương 28,7%, vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác 34,5%, vốn tín dụng chính sách 2,2%, và vốn doanh nghiệp cùng đóng góp tự nguyện của cộng đồng, người dân chiếm 25%.

Theo Quyết định số 417, Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì Hợp phần thứ hai, phối hợp với các bộ, ngành liên quan hướng dẫn, tổ chức thực hiện các nội dung đặc thù phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Đồng thời, tổng hợp và ban hành quyết định phê duyệt danh sách các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026-2030 trên toàn quốc. Công bố danh sách thôn vùng đồng bào DTTS&MN, thôn đặc biệt khó khăn; xã khu vực I, II, III; và phê duyệt danh sách tỉnh vùng đồng bào DTTS&MN. Tổng hợp, đề xuất kế hoạch và phương án phân bổ vốn ngân sách trung ương thực hiện Hợp phần thứ hai hàng năm và cả giai đoạn 2026-2030.

Các nội dung thành phần cụ thể do Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì trong Hợp phần thứ hai:

- Nội dung thành phần 01: Đầu tư xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (gồm 07 nội dung cụ thể).

- Nội dung thành phần 02: Hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (gồm 06 nội dung cụ thể).

- Nội dung thành phần 03: Phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bào DTTS&MN (gồm 04 nội dung cụ thể).

- Nội dung thành phần 04: Chính sách đặc thù ưu tiên hỗ trợ, phát triển các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù (gồm 02 nội dung cụ thể).

- Nội dung thành phần 05. Công tác truyền thông, tuyên truyền; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN (gồm 04 nội dung cụ thể).

Ngoài ra, Bộ Dân tộc và Tôn giáo có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc tham mưu thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình và các cơ quan điều phối liên quan để đảm bảo việc quản lý và thực hiện chương trình đạt hiệu quả.

 

Thuần Linh