Để chính sách dân tộc thực sự đi vào cuộc sống

57 phút trước |   Lượt xem: 29 |   In bài viết | 

Nguồn lực chính sách tạo chuyển biến rõ nét

Lào Cai là tỉnh vùng cao, biên giới, có địa bàn rộng, địa hình chia cắt, dân cư phân tán; đời sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Theo danh sách xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030 được UBND tỉnh phê duyệt, toàn tỉnh có 95 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, gồm 12 xã khu vực I, 36 xã khu vực II và 47 xã khu vực III; 2.438 thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 1.033 thôn đặc biệt khó khăn.

Trong điều kiện đó, việc thực hiện Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc và Nghị định số 127/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP được tỉnh lồng ghép chặt chẽ với các nghị quyết, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Trọng tâm là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Giai đoạn 2021 - 2025, tổng nguồn lực từ Chương trình được bố trí cho tỉnh Lào Cai hơn 6.300 tỷ đồng, gồm gần 3.460 tỷ đồng vốn đầu tư và hơn 2.843 tỷ đồng vốn sự nghiệp. Nguồn lực này được tập trung cho các công trình thiết yếu, hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội cơ bản.

Hiệu quả chính sách được thể hiện bằng những chỉ số gắn trực tiếp với đời sống người dân. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số bình quân giảm 6,36% mỗi năm, cao hơn 0,36 điểm phần trăm so với kế hoạch được giao. Thu nhập bình quân của đồng bào dân tộc thiểu số tăng khoảng hai lần so với đầu kỳ, đạt trên 33 triệu đồng/người/năm. Đến nay, 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm được rải nhựa hoặc bê tông; trên 95% số thôn, bản có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa.

Từ hạ tầng thiết yếu đến sinh kế bền vững

Những kết quả chung ấy được nhìn thấy rõ hơn từ sự thay đổi ở từng địa bàn. Xã A Mú Sung hiện có 1.579 hộ với 6.014 nhân khẩu, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 98%. Từ một địa bàn có tỷ lệ hộ nghèo trên 40% vào cuối năm 2024, đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm còn 28,23%; thu nhập bình quân đầu người đạt gần 33 triệu đồng/năm. Điện, đường, trường học, trạm y tế và nhiều công trình dân sinh tiếp tục được đầu tư, từng bước đáp ứng nhu cầu thiết yếu của Nhân dân.

Riêng năm 2025, A Mú Sung được phân bổ trên 50 tỷ đồng từ các chương trình mục tiêu quốc gia để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, trong đó vốn đầu tư công hơn 26 tỷ đồng và vốn sự nghiệp gần 24 tỷ đồng. Từ nguồn lực này, địa phương có thêm điều kiện hoàn thiện hạ tầng, hỗ trợ người dân phát triển sản xuất và từng bước giải quyết những khó khăn đặc thù của một xã vùng cao, biên giới.

Điều đáng ghi nhận là chính sách không dừng ở việc xây dựng các công trình. Trên cơ sở hạ tầng được cải thiện, chính quyền cơ sở đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và nhu cầu thị trường. Bên cạnh lúa, ngô truyền thống, nhiều hộ đã đưa các loại cây có giá trị kinh tế như dược liệu, chè, chuối, quế vào sản xuất, qua đó tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và giảm dần tâm lý trông chờ, ỷ lại.

Thực tiễn cho thấy, hiệu quả đầu tư cao nhất đạt được khi công trình hạ tầng gắn với phương án sản xuất và khả năng tham gia của người dân. Một tuyến đường được cứng hóa chỉ thực sự phát huy giá trị khi giúp nông sản đi ra thị trường thuận lợi hơn; một mô hình sinh kế chỉ có thể bền vững khi người dân được hướng dẫn kỹ thuật, kết nối tiêu thụ và chủ động tổ chức sản xuất. Đây cũng là cách để nguồn lực hỗ trợ chuyển hóa thành năng lực tự vươn lên của mỗi hộ gia đình và cộng đồng.

Tăng cường nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Cùng với đầu tư hạ tầng và hỗ trợ sinh kế, Lào Cai triển khai nhiều chính sách tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực, đời sống văn hóa và sự an toàn của cộng đồng. Trong đó có chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; các hoạt động giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; tuyên truyền, vận động phòng, chống tội phạm và ma túy; thúc đẩy bình đẳng giới; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số; phát triển giáo dục, y tế, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

Việc triển khai đồng thời các nhóm chính sách cho thấy cách tiếp cận ngày càng toàn diện đối với công tác dân tộc. Mục tiêu không chỉ là hỗ trợ một công trình hay một mô hình sản xuất cụ thể, mà còn tạo môi trường để người dân được tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ cơ bản, nâng cao nhận thức, phát huy vai trò chủ thể và gìn giữ những giá trị văn hóa tốt đẹp của cộng đồng.

Trong quá trình này, đội ngũ cán bộ cơ sở và người có uy tín giữ vai trò cầu nối quan trọng. Khi chủ trương, chính sách được giải thích bằng ngôn ngữ dễ hiểu, gắn với nhu cầu và điều kiện của từng thôn, bản, người dân sẽ tích cực tham gia, giám sát và cùng tổ chức thực hiện. Sự đồng thuận của Nhân dân vì thế vừa là điều kiện, vừa là thước đo đối với chất lượng triển khai chính sách.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn mới. Trước hết, cần làm rõ hơn việc phân cấp, phân quyền và trách nhiệm của từng cấp chính quyền, bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; đồng thời quy định cụ thể cơ chế phối hợp liên ngành để hạn chế chồng chéo, đứt quãng trong tổ chức thực hiện.

Cơ chế lồng ghép và điều phối nguồn lực cũng cần được hoàn thiện theo hướng linh hoạt, trao thêm tính chủ động cho địa phương trong phạm vi chương trình nhưng vẫn bảo đảm đúng mục tiêu, đối tượng và tăng cường giám sát. Việc tháo gỡ kịp thời các vướng mắc về thủ tục sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ, nâng cao hiệu quả giải ngân và đưa nguồn lực đến với người dân sớm hơn.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công tác dân tộc, hình thành hệ thống theo dõi, quản lý và giám sát thống nhất trên phạm vi cả nước. Dữ liệu đầy đủ, chính xác và được cập nhật thường xuyên sẽ giúp nhận diện đúng nhu cầu, xác định đúng đối tượng, hạn chế trùng lặp chính sách; đồng thời tạo cơ sở để đánh giá hiệu quả đầu tư bằng những thay đổi thực chất trong đời sống của đồng bào.

Từ thực tiễn Lào Cai có thể thấy, sức sống của chính sách dân tộc được tạo nên khi chủ trương đúng đi cùng nguồn lực đủ, cách làm sát thực tế và sự tham gia chủ động của người dân. Những con đường được mở, những mô hình sinh kế hình thành, tỷ lệ hộ nghèo giảm và thu nhập từng bước được nâng lên chính là minh chứng cụ thể cho hiệu quả chính sách. Đó cũng là nền tảng để vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, để mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển và không ai bị bỏ lại phía sau.

Hương Huyền - Xuân Thường