Dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi): tăng cường chuyển đổi số, ưu tiên nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới
4 giờ trước | Lượt xem: 104 In bài viết |Hòa giải ở cơ sở từ lâu đã khẳng định vai trò là một thiết chế tự quản cộng đồng sâu sắc, lá chắn giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp từ sớm, từ xa, góp phần giữ gìn tình làng nghĩa xóm và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trước yêu cầu đổi mới đất nước, việc hoàn thiện thể chế gắn liền với chủ trương phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số quốc gia và tinh gọn bộ máy quản lý nhà nước đã đặt ra nhiệm vụ cấp thiết phải sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở.
Dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) vừa được đưa ra thảo luận trong chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội Khóa XVI không chỉ kế thừa các giá trị cốt lõi hiện hành mà còn thể hiện một bước tiến lập pháp toàn diện, trong đó, ứng dụng chuyển đổi số và dành nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới được coi là hai trong số những điểm nhấn đáng chú ý của Luật.
Hiện đại hóa công tác hòa giải
Dự thảo Luật xác định việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong công tác hòa giải ở cơ sở là một chính sách lớn để hiện đại hóa lĩnh vực này, bắt kịp chủ trương phát triển Chính phủ số, xã hội số của Đảng và Nhà nước.
Lần đầu tiên, hình thức hòa giải trực tuyến được đề xuất quy định chính thức, bên cạnh phương thức hòa giải trực tiếp truyền thống. Việc bổ sung cơ chế trực tuyến giúp tận dụng tối đa ưu thế của công nghệ thông tin, giảm bớt chi phí, thời gian đi lại cho các bên liên quan và mở ra giải pháp linh hoạt đối với những vụ việc có yếu tố địa lý cách trở hoặc các bên không thể gặp mặt trực tiếp.
Không dừng lại ở không gian hòa giải, công nghệ số còn thâm nhập sâu vào các quy trình dân chủ và quản lý nghiệp vụ tại cơ sở. Dự thảo đã mở rộng các hình thức bầu cử, lấy ý kiến chọn hòa giải viên thông qua biểu quyết trực tuyến hoặc lấy ý kiến qua môi trường mạng, đồng thời, các quy định mới yêu cầu đẩy mạnh số hóa quy trình ghi chép, lưu trữ Sổ theo dõi hoạt động hòa giải, tạo thuận lợi cho việc kết nối và cung cấp hồ sơ sang Tòa án để phục vụ thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án một cách nhanh chóng, minh bạch.
Theo bà Chamaléa Thị Thủy, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Khánh Hòa, cần có lộ trình phù hợp trong ứng dụng công nghệ vào hoạt động hòa giải ở cơ sở. Bà cho rằng, đây là xu thế tất yếu, góp phần giảm chi phí, tạo thuận lợi cho người dân và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động hòa giải. Tuy nhiên, bà cũng lưu ý đến việc các xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hạ tầng số còn hạn chế, nhiều hòa giải viên lớn tuổi chưa có điều kiện và kỹ năng tiếp cận công nghệ, do đó, Luật cần quy định linh hoạt về lộ trình áp dụng, đồng thời có chính sách hỗ trợ hạ tầng số phù hợp với điều kiện của từng địa bàn, nhất là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Dù hiện đại hóa phương thức, dự thảo Luật thể hiện tư duy lập pháp thực tiễn khi không quy định hòa giải trực tuyến một cách cứng nhắc hay bắt buộc. Áp dụng nguyên tắc khuyến khích, linh hoạt, không cứng nhắc, dự thảo được thiết kế theo hướng khuyến khích áp dụng công nghệ số và chuyển đổi số, chủ động kết hợp giữa phương thức truyền thống và hiện đại, đồng thời, phải dựa trên sự đồng thuận của cộng đồng dân cư và điều kiện thực tiễn của từng địa bàn, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn về hạ tầng kỹ thuật.
Như Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng đã khẳng định trước Quốc hội, việc ứng dụng công nghệ thông tin phải tuân thủ nguyên tắc phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa bàn. Tinh thần chuyển đổi số ở đây mang tính mở và linh hoạt, tạo hành lang pháp lý cho những nơi có hạ tầng công nghệ phát triển bứt phá, đồng thời không gây áp lực hành chính lên các khu vực còn gặp khó khăn.
Dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) được thảo luận trong chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội Khóa XVI
Bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) chú trọng tính bao trùm xã hội, bảo đảm không một nhóm cộng đồng nào bị đứng ngoài hay bị bỏ lại phía sau. Nhận định này được thể hiện qua các chính sách đặc thù dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và sự phát huy vai trò của các tổ chức tôn giáo.
Thực tiễn thi hành luật cho thấy, tại các vùng miền núi, biên giới, rào cản lớn nhất trong hòa giải là ngôn ngữ và khoảng cách địa lý. Dự thảo Luật đã bổ sung quy định mang tính nguyên tắc tại khoản 8 Điều 4, khẳng định, bên cạnh tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức, các bên tranh chấp có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, đồng thời, quy định cụ thể việc bố trí người phiên dịch khi thực hiện hòa giải.
Bên cạnh đó, để nâng cao niềm tin của nhân dân, dự thảo ưu tiên/bắt buộc cơ cấu hòa giải viên là người dân tộc thiểu số tại các địa bàn đặc thù; ghi nhận và phát huy tối đa vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng - những người am hiểu sâu sắc phong tục, tập quán và có tiếng nói ảnh hưởng đối với bà con.
Dự thảo Luật cũng khuyến khích huy động chức sắc, chức việc, người có uy tín trong các tôn giáo phối hợp thực hiện hòa giải mâu thuẫn tại cộng đồng. Sự kết hợp giữa quy định pháp luật với các giá trị đạo đức tôn giáo và phong tục tập quán tốt đẹp được kỳ vọng vừa tăng tính thuyết phục, xoa dịu mâu thuẫn, vừa góp phần quan trọng củng cố sự đoàn kết giữa các tín đồ, cộng đồng tôn giáo tại địa phương.
Theo Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Khánh Hòa Chamaléa Thị Thủy, đây là bước tiến quan trọng, thể hiện sự tôn trọng bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán và quyền tiếp cận công lý bình đẳng của đồng bào dân tộc thiểu số. Từ thực tiễn của tỉnh Khánh Hòa, nơi có các địa bàn miền núi với đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, bà đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, bổ sung cơ chế bồi dưỡng hòa giải viên, cung cấp tài liệu hòa giải bằng tiếng dân tộc thiểu số. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ kinh phí bố trí người phiên dịch một cách thực chất, tránh tình trạng quy định khó triển khai do địa phương thiếu nguồn lực.
Đối với nguồn lực dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, ông Lê Hoàng Anh, Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Gia Lai cho rằng, đây là những địa bàn mà vai trò “đi trước một bước” của hòa giải ở cơ sở càng có ý nghĩa quan trọng.
Mặc dù dự thảo đã thể chế hóa nhiều cơ chế phù hợp với đặc thù về con người, ngôn ngữ và điều kiện địa bàn, song vấn đề ưu tiên ngân sách cho các khu vực này vẫn cần được cụ thể hóa hơn. Do đó, ông Lê Hoàng Anh kiến nghị Chính phủ, khi ban hành nghị định quy định chi tiết Điều 6, cần đưa địa bàn miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thành tiêu chí ưu tiên trong công thức phân bổ và định mức chi.Theo đại biểu, việc này sẽ giúp những cơ chế đặc thù về hòa giải viên, người có uy tín, ngôn ngữ, phiên dịch và phương thức tổ chức hòa giải có đủ nguồn lực để vận hành trên thực tế.
Bên cạnh đó, một nội dung dự thảo quan trọng được nhiều đại biểu Quốc hội tán thành là sự chuyển đổi từ cơ chế Nhà nước “hỗ trợ” sang “bảo đảm kinh phí”. Đặc biệt, các đại biểu kiến nghị không áp dụng mức kinh phí bình quân cào bằng, mà cần đưa các địa bàn miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thành tiêu chí ưu tiên trong công thức phân bổ và định mức chi ngân sách. Mức chi ưu tiên này bảo đảm cho các chi phí thực tế phát sinh (đi lại, ngôn ngữ, phiên dịch, tập huấn) có đủ nguồn lực vận hành thực chất.
Thể hiện sự quan tâm đến kinh phí cho hoạt động hòa giải ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, ông Nguyễn Đặng Ân, Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Lạng Sơn đánh giá cao cơ quan soạn thảo xây dựng Luật với nhiều quy định phù hợp đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số như: sử dụng tiếng nói, chữ viết dân tộc; bố trí hòa giải viên là người dân tộc thiểu số; bố trí người phiên dịch; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín. Tuy nhiên, để thực hiện được những nội dung này, theo ông Ân, phải có kinh phí và nguồn lực tương ứng.
Đại biểu phân tích, điều kiện hoạt động của một tổ hòa giải ở địa bàn đô thị, nơi dân cư tập trung rất khác so với một tổ hòa giải tại xã miền núi, biên giới, nơi địa bàn rộng, dân cư phân tán và có nhiều thành phần dân tộc. Chi phí đi lại khác nhau, yêu cầu về ngôn ngữ, tài liệu tập huấn khác nhau và khả năng tiếp cận công nghệ cũng khác nhau. Do đó, ông kiến nghị, khi hoàn thiện Điều 6 về kinh phí và Điều 32 về trách nhiệm của chính quyền địa phương cần bảo đảm một nguyên tắc là việc phân bổ nguồn lực phải tính đến đặc điểm địa bàn và chi phí thực tế của hoạt động hòa giải, không nên chỉ áp dụng một cơ chế bình quân.
Trong phần giải trình trước Quốc hội sáng 10/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nêu rõ, chính sách hòa giải ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và những địa bàn còn nhiều khó khăn là một trong những nội dung mới được dự thảo luật bổ sung khá nhiều so với luật hiện hành, nhằm khắc phục các bất cập từ thực tiễn qua nhiều năm triển khai.
Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cho biết, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến góp ý. Tinh thần của cơ quan soạn thảo là mong muốn quy định cụ thể hơn về kinh phí trong luật, tuy nhiên nội dung này còn có những ràng buộc nhất định, nhất là yêu cầu bảo đảm thống nhất với Luật Ngân sách nhà nước và các quy định pháp luật có liên quan.
Linh hoạt về phương thức, bảo đảm nguyên tắc cốt lõi của hòa giải ở cơ sở
Nhìn vào cấu trúc dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), chuyển đổi số được đề cập có lộ trình, không gây gánh nặng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Song song với việc thúc đẩy hòa giải trực tuyến, Luật quy định lộ trình áp dụng linh hoạt theo điều kiện từng địa bàn, bảo đảm vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn - nơi hạ tầng internet và thiết bị công nghệ còn hạn chế - không bị lúng túng trong quá trình triển khai. Tại những nơi này, phương thức hòa giải trực tiếp kết hợp với vai trò của già làng, người có uy tín hiện vẫn tiếp tục đóng vai trò nòng cốt.
Bên cạnh đó, cơ chế bảo đảm kinh phí ưu tiên cho vùng khó khăn, địa bàn biên giới sẽ tạo điều kiện để chính quyền địa phương đầu tư trang thiết bị, mở các lớp tập huấn kỹ năng số cho đội ngũ hòa giải viên là người dân tộc thiểu số. Từ đó, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trở thành công cụ hỗ trợ nâng cao năng lực cho chính các hòa giải viên ở vùng sâu, vùng xa.
Dù hòa giải được tiến hành trực tuyến qua màn hình máy vi tính hay trực tiếp tại không gian bản làng, dự thảo Luật nhất quán giữ vững các nguyên tắc cốt lõi: tự nguyện, dân chủ, tôn trọng sự thỏa thuận, bảo mật thông tin và giữ gìn tình đoàn kết cộng đồng. Công nghệ hay tập quán tôn giáo, dân tộc được linh hoạt áp dụng như công cụ và môi trường để đạt tới mục tiêu cao nhất: sự hòa giải thành công và đồng thuận xã hội. Khi được ban hành và đi vào cuộc sống, Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) được kỳ vọng trở thành công cụ pháp lý vững chắc, nâng cao tỷ lệ hòa giải thành công, giảm tải áp lực cho hệ thống tư pháp và xây dựng một xã hội trật tự, kỷ cương, an lành ngay từ mái nhà, ngõ xóm.
Thuần Linh


