Bảo đảm chính sách dân tộc đến đúng địa bàn, đúng đối tượng sau sắp xếp đơn vị hành chính
09:32 PM 28/10/2026 | Lượt xem: 278 In bài viết |Việc sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức lại thôn, làng đặt ra yêu cầu rà soát, cập nhật địa bàn thụ hưởng chính sách dân tộc, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế và không làm gián đoạn quyền lợi của người dân. Từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi, công tác phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2030 đang được triển khai gắn với việc kiện toàn địa bàn quản lý, tạo cơ sở thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Phân định đúng địa bàn, bảo đảm cơ sở thực hiện chính sách
Phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý nhà nước về dân tộc, làm căn cứ xác định địa bàn ưu tiên đầu tư, hỗ trợ và tổ chức thực hiện các chính sách có liên quan. Trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức lại thôn, làng, yêu cầu đặt ra không chỉ là xác định đúng địa giới, tên gọi mới mà còn phải đánh giá chính xác điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa bàn, bảo đảm chính sách được thực hiện đúng đối tượng, đúng quy định.
Ngày 16/10/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 272/2025/NĐ-CP về phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2030, có hiệu lực từ ngày 01/12/2025. Nghị định quy định tiêu chí xác định địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; tiêu chí phân định thôn đặc biệt khó khăn và xã theo trình độ phát triển thành khu vực I, khu vực II, khu vực III.
Việc phân định được thực hiện trên cơ sở các tiêu chí cụ thể, phản ánh điều kiện phát triển và mức độ khó khăn của từng địa bàn. Kết quả phân định là căn cứ quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền rà soát, xác định phạm vi, đối tượng áp dụng những chính sách liên quan trong giai đoạn mới.
Tại Quảng Ngãi, theo Báo cáo số 226/BC-SDTTG ngày 05/9/2026 của Sở Dân tộc và Tôn giáo, toàn tỉnh có 536.784 người dân tộc thiểu số, chiếm 25,06% dân số. Kết quả phân định vùng giai đoạn 2026–2030 xác định 7 xã khu vực I, 10 xã khu vực II và 48 xã khu vực III; 700 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 398 thôn đặc biệt khó khăn.
Để triển khai Nghị định số 272/2025/NĐ-CP, Sở Dân tộc và Tôn giáo đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị và địa phương tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 25/QĐ-UBND ngày 16/01/2026 phê duyệt danh sách địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2030. Cùng với quá trình sắp xếp thôn, tỉnh tiếp tục rà soát, điều chỉnh danh sách, trong đó có Quyết định số 629/QĐ-UBND về phê duyệt điều chỉnh thôn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn.
Đáng chú ý, danh sách được phê duyệt đầu năm 2026 gồm 1.085 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, 561 thôn đặc biệt khó khăn. Sau quá trình rà soát, sắp xếp thôn, số đơn vị thôn trong danh sách được điều chỉnh còn 700 thôn, trong đó có 398 thôn đặc biệt khó khăn.
Sự thay đổi về số lượng thôn cần được xem xét trong bối cảnh tổ chức lại địa bàn dân cư, không đồng nghĩa với việc số người dân có nhu cầu hỗ trợ hoặc mức độ khó khăn của vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm tương ứng. Vì vậy, việc cập nhật danh sách địa bàn phải gắn với rà soát thực trạng dân cư, điều kiện phát triển và đối tượng thụ hưởng của từng chính sách.
Thực tiễn về giảm số lượng thôn, làng tại cơ sở
Xã Đăk Tờ Kan, tỉnh Quảng Ngãi là một trường hợp cho thấy rõ mối liên hệ giữa sắp xếp địa bàn dân cư và thực hiện chính sách dân tộc.
Được thành lập trên cơ sở sáp nhập hai xã Đăk Tờ Kan và Đăk Rơ Ông, địa phương tiếp tục thực hiện sắp xếp, tổ chức lại các thôn theo quy định. Từ 16 thôn trước đây, xã được tổ chức lại thành 5 thôn gồm: Kong Hia, Tea Rơ Ông, Tea Uyn, Tea Kan và Kon Hnông.
Theo danh sách phân định được cập nhật của tỉnh Quảng Ngãi, cả 5 thôn đều thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đồng thời được xác định là thôn đặc biệt khó khăn. Xã Đăk Tờ Kan tiếp tục thuộc khu vực III.
Trao đổi về quá trình triển khai tại địa phương, ông Trần Thanh Hoàng, Phó Chủ tịch UBND xã Đăk Tờ Kan cho biết, việc phân định địa bàn sau sắp xếp có những thay đổi so với trước. Trong đó, một số địa bàn trước đây chưa thuộc diện đặc biệt khó khăn nhưng sau khi sắp xếp, tổ chức lại thôn được xác định theo danh sách phân định mới, làm thay đổi căn cứ áp dụng một số chính sách liên quan.
Theo ông Hoàng, đối với Đăk Tờ Kan, việc tiếp tục được xác định là xã khu vực III giúp địa phương thuận lợi hơn trong tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, hạn chế những xáo trộn có thể phát sinh khi thay đổi tình trạng phân định địa bàn.
Từ thực tiễn này có thể thấy, việc sắp xếp thôn không chỉ thay đổi tên gọi, quy mô và phạm vi quản lý mà còn đặt ra yêu cầu xác định lại đặc điểm, điều kiện của đơn vị thôn sau sắp xếp. Những thay đổi về địa bàn phân định có thể ảnh hưởng đến việc xác định phạm vi áp dụng các chính sách hỗ trợ người dân, đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, việc một thôn được xác định là thôn đặc biệt khó khăn không có nghĩa mọi hộ dân trên địa bàn đều mặc nhiên được hưởng tất cả chính sách hỗ trợ. Việc áp dụng từng chính sách còn phụ thuộc vào phạm vi điều chỉnh, điều kiện và đối tượng thụ hưởng theo quy định hiện hành.
Do đó, yêu cầu quan trọng đối với chính quyền cơ sở là rà soát chính xác từng địa bàn, từng nhóm đối tượng và những chính sách có liên quan, nhất là khi địa giới thôn, tên gọi và quy mô dân cư đã thay đổi.
Công khai kết quả phân định, không để chính sách gián đoạn
Bên cạnh việc xác định đúng địa bàn, công khai và phổ biến kết quả phân định đến người dân là khâu quan trọng để chính sách được triển khai thống nhất.
Ông Trần Thanh Hoàng cho biết, sau khi có danh sách địa bàn được cấp có thẩm quyền phê duyệt, UBND xã Đăk Tờ Kan đã thông tin đến các thôn, đơn vị liên quan và người dân để nắm bắt, làm cơ sở triển khai những chính sách áp dụng đối với từng địa bàn, đối tượng theo quy định.
Việc thông tin kịp thời giúp cán bộ thôn và người dân nhận biết tình trạng phân định của địa bàn nơi cư trú, đồng thời tạo thuận lợi cho công tác rà soát, lập danh sách và tổ chức thực hiện các chính sách có liên quan.
Ở phạm vi toàn tỉnh, Sở Dân tộc và Tôn giáo Quảng Ngãi đã phối hợp với các đơn vị, địa phương tham mưu việc phân định, điều chỉnh địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đồng thời, tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, kịp thời tổng hợp và đề xuất tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc.
Báo cáo của Sở cũng xác định nhiệm vụ trọng tâm trong những tháng cuối năm 2026 là tiếp tục hướng dẫn các địa phương thực hiện chính sách dân tộc, giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền hoặc tổng hợp, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét đối với các nội dung còn vướng mắc.
Trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, công tác quản lý địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và chính quyền cấp xã. Việc thống nhất thông tin về địa bàn, cập nhật biến động dân cư và xác định đúng đối tượng thụ hưởng có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng tham mưu, tổ chức thực hiện chính sách.
Đặc biệt, đối với những địa bàn vừa thực hiện sáp nhập, việc rà soát cần chú trọng các trường hợp có thay đổi về tình trạng phân định, tránh áp dụng danh sách cũ hoặc bỏ sót nhóm đối tượng đủ điều kiện thụ hưởng theo quy định.
Thực tiễn tại Quảng Ngãi cho thấy, phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ là việc xác lập danh sách các xã, thôn theo tiêu chí pháp luật. Quan trọng hơn, kết quả phân định phải được chuyển hóa thành căn cứ quản lý chính xác, phục vụ việc tổ chức thực hiện chính sách phù hợp với điều kiện thực tế.
Tiếp tục hoàn thiện công tác rà soát, cập nhật địa bàn, tăng cường hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện chính sách sau sắp xếp là những yêu cầu cần thiết để bảo đảm nguồn lực đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước đến đúng địa bàn, đúng đối tượng, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2030.
Thành Long

