Để chính sách dân tộc đi vào đời sống, tạo sự bứt phá từ cơ sở
1 giờ trước | Lượt xem: 44 In bài viết |Những đổi thay về hạ tầng, sinh kế và đời sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Khánh Hòa cho thấy hiệu quả của việc đưa chủ trương, chính sách đến với cơ sở. Kế thừa kết quả của Khánh Hòa và Ninh Thuận trước sắp xếp, tỉnh tiếp tục tháo gỡ khó khăn, phát huy nội lực của đồng bào, hướng tới giảm nghèo bền vững.
Tạo nền tảng ổn định đời sống và phát triển sản xuất
Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Khánh Hòa có 34 dân tộc thiểu số với 266.284 người, chiếm 11,79% dân số. Toàn tỉnh có 28 xã, phường thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, với 164 thôn, trong đó 73 thôn đặc biệt khó khăn. Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, sản xuất và văn hóa đòi hỏi chính sách phải được triển khai phù hợp với từng địa bàn, từng cộng đồng.
Qua 23 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW và triển khai Kết luận số 65-KL/TW về công tác dân tộc, các cấp ủy, chính quyền đã cụ thể hóa chủ trương của Trung ương thành chương trình, kế hoạch của địa phương. Trước sắp xếp, Khánh Hòa ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU năm 2021; Ninh Thuận ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TU năm 2022 về phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, làm cơ sở tập trung nguồn lực và tổ chức thực hiện.
Giai đoạn 2021–2025, tổng vốn ngân sách trung ương và địa phương phân bổ cho ba chương trình mục tiêu quốc gia đạt hơn 3.380 tỷ đồng; riêng Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được phân bổ hơn 1.920 tỷ đồng. Nguồn lực được lồng ghép để giải quyết nhu cầu thiết yếu, tạo nền tảng ổn định đời sống và sản xuất.
Trong giai đoạn này, các địa phương đã hỗ trợ đất ở cho 526 hộ, xây mới nhà ở cho 1.688 hộ, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 2.865 hộ nghèo thiếu đất sản xuất; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 1.093 hộ và đầu tư 20 công trình nước sinh hoạt tập trung. Tại Khánh Hòa trước sắp xếp, ngoài mức hỗ trợ nhà ở 40 triệu đồng/hộ từ ngân sách trung ương, hộ nghèo thuộc phạm vi chính sách được ngân sách địa phương hỗ trợ thêm 40 triệu đồng/hộ.
Cùng với cải thiện điều kiện sống, nhiều hộ đồng bào đã ứng dụng kỹ thuật, chuyển đổi cây trồng và tham gia liên kết sản xuất. Khánh Hòa trước sắp xếp hình thành vùng chuyên canh sầu riêng khoảng 2.300 ha, bưởi da xanh khoảng 700 ha. Theo báo cáo năm 2024, Ninh Thuận trước sắp xếp có 57 liên kết sản xuất trên diện tích 14.267 ha và 31 “cánh đồng lớn” với 4.242 ha. Giai đoạn 2019–2024, tại Ninh Thuận, 36.460 lượt hộ dân tộc thiểu số được vay vốn tín dụng chính sách với tổng số tiền 1.440 tỷ đồng, có thêm điều kiện đầu tư sinh kế.
Nông dân và cán bộ phòng Kinh tế xã Tây Khánh Sơn kiểm tra vườn Sầu Riêng
Nâng cao chất lượng sống và gắn kết cộng đồng
Chính sách dân tộc được triển khai đồng bộ với giáo dục, y tế và bảo tồn văn hóa. Toàn tỉnh có 11 trường phổ thông dân tộc nội trú và 11 trường phổ thông dân tộc bán trú. Các chế độ đối với học sinh, giáo viên được thực hiện và tiếp tục rà soát sau sắp xếp để bảo đảm đúng đối tượng, không trùng lặp hỗ trợ. Đào tạo nghề gắn với tư vấn, giới thiệu việc làm; y tế cơ sở từng bước được củng cố, chú trọng bảo hiểm y tế, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và phòng, chống dịch bệnh.
Việc gìn giữ văn hóa truyền thống được gắn với phát triển sinh kế. Các địa phương duy trì kiểm kê, sưu tầm, truyền dạy di sản, bảo tồn lễ hội và nghề thủ công. “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp năm 2022 đặt ra yêu cầu tiếp tục bảo vệ kỹ năng nghề, phát huy vai trò nghệ nhân và truyền dạy cho thế hệ trẻ. Văn hóa Chăm, Raglai cùng cảnh quan thiên nhiên cũng mở ra tiềm năng du lịch cộng đồng, với yêu cầu bảo vệ môi trường, gìn giữ bản sắc và bảo đảm người dân được hưởng lợi.
Sự gắn bó giữa cơ quan thực hiện chính sách với cơ sở là một kinh nghiệm đáng chú ý. Trước sắp xếp, Khánh Hòa tổ chức 36 nhóm gồm 172 cơ quan, đơn vị hỗ trợ các xã. Giai đoạn 2019–2024, các nhóm huy động 16,32 tỷ đồng hỗ trợ vật tư, nhà tình nghĩa và thiết bị giáo dục, góp phần đáp ứng nhu cầu cụ thể của từng địa bàn.
Đến ngày 01/9/2026, tỉnh có 209 người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Cùng với già làng, trưởng tộc họ, chức sắc, đây là lực lượng quan trọng trong tuyên truyền, vận động, hòa giải và phản ánh kiến nghị của đồng bào. Việc chăm lo đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội tiếp tục góp phần củng cố hệ thống chính trị cơ sở, tăng cường đoàn kết.
Tháo gỡ khó khăn để đồng bào chủ động vươn lên
Bên cạnh kết quả đạt được, kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn phát triển chậm so với mặt bằng chung của tỉnh. Cuối năm 2025, tỉnh còn 3.095 hộ nghèo dân tộc thiểu số, chiếm 5,72% tổng số hộ dân tộc thiểu số; 4.579 hộ cận nghèo, chiếm 8,46%. Thiếu đất sản xuất, khó khăn về nguồn nước, tác động của biến đổi khí hậu và liên kết tiêu thụ còn hạn chế khiến kết quả giảm nghèo chưa bền vững.
Sau sắp xếp, một số cán bộ cấp xã còn lúng túng khi tiếp nhận nhiệm vụ; dữ liệu quản lý chưa được chuẩn hóa đầy đủ, việc chuyển tiếp chính sách khi thay đổi phân định địa bàn còn vướng mắc. Vì vậy, trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cần xác định rõ trách nhiệm của sở, ngành và cấp xã; bảo đảm quản lý hồ sơ, nguồn vốn, đối tượng thụ hưởng liên tục, không bỏ sót hoặc trùng lặp hỗ trợ. Bồi dưỡng cán bộ phải gắn với hướng dẫn nghiệp vụ và giải quyết tình huống thực tế.
Nguồn lực cần ưu tiên cho xã, thôn đặc biệt khó khăn và công trình thiết yếu, gắn đầu tư với vận hành, duy tu. Hỗ trợ sản xuất phải kết hợp kỹ thuật, tín dụng, đào tạo nghề và đầu ra sản phẩm; lựa chọn mô hình phù hợp với đất đai, nguồn nước, thị trường và khả năng tham gia của người dân. Nơi hạn chế quỹ đất sản xuất cần chú trọng chuyển đổi nghề gắn với việc làm ổn định.
Cùng với rà soát nhu cầu đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt và tháo gỡ vướng mắc về tái định cư, tỉnh tiếp tục theo dõi các nhóm có nguy cơ gián đoạn thụ hưởng chính sách để đề xuất hỗ trợ chuyển tiếp theo thẩm quyền. Tuyên truyền cần phù hợp ngôn ngữ, văn hóa của từng cộng đồng, đi đôi với hướng dẫn thủ tục, đối thoại và giải quyết kiến nghị, giúp đồng bào chủ động tiếp cận chính sách.
Về cơ chế, tỉnh kiến nghị Trung ương xem xét chuyển hộ nghèo không có khả năng thoát nghèo sang diện bảo trợ xã hội; hỗ trợ bảo hiểm y tế cho hộ thoát nghèo, thoát cận nghèo. Đồng thời, cần có chính sách đặc thù thu hút doanh nghiệp đầu tư vào vùng khó khăn, tạo việc làm; khuyến khích lực lượng trẻ và cán bộ khoa học, kỹ thuật về công tác, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực tại chỗ.
Thực tiễn cho thấy, chính sách phát huy hiệu quả khi bám sát nhu cầu và có sự tham gia của đồng bào từ lựa chọn nội dung hỗ trợ đến giám sát thực hiện. Thước đo kết quả phải là thu nhập, việc làm, khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội và mức độ ổn định của đời sống người dân. Đó là cơ sở để Khánh Hòa tiếp tục đưa chính sách dân tộc vào cuộc sống, khơi dậy ý chí vươn lên và tạo sức bật từ cơ sở.
Chamaléa Thị Thủy


