Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam theo hướng tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập
3 giờ trước | Lượt xem: 90 In bài viết |Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Nghị quyết xác định những định hướng lớn nhằm tạo động lực phát triển mới, hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế không ngừng được nâng lên; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân được cải thiện; quốc phòng, an ninh được giữ vững; vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được củng cố.
Tuy nhiên, quá trình đổi mới mô hình phát triển còn chậm. Tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều rộng, phụ thuộc nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp. Năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao; năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn hạn chế; năng lực tự chủ chiến lược chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới.
Phát triển xã hội, văn hóa, con người và bảo vệ môi trường còn một số hạn chế. Văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của phát triển. Việc khai thác, phân bổ và sử dụng các nguồn lực quốc gia có mặt chưa hiệu quả; thể chế và phương thức quản trị chưa theo kịp yêu cầu phát triển nhanh, bền vững.
Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động nhanh, phức tạp, khó dự báo, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ, toàn diện mô hình phát triển Việt Nam trở nên cấp thiết. Đây là cơ sở để đất nước khai thác hiệu quả các nguồn lực, tận dụng cơ hội từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời nâng cao năng lực tự chủ, khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế.
Con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển
Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định đổi mới mô hình phát triển gắn với xây dựng, hoàn thiện hệ sinh thái phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Trọng tâm của quá trình này là chuyển sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia.
Con người được đặt ở vị trí trung tâm, là chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Mọi chủ trương, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, chất lượng sống và hạnh phúc của Nhân dân; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và không để ai bị bỏ lại phía sau.
Nghị quyết xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia là những động lực chính của mô hình phát triển mới. Nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực quốc gia là những yêu cầu xuyên suốt.
Phát triển kinh tế nhanh, bền vững và bao trùm phải gắn chặt với phát triển văn hóa, xã hội, con người và bảo vệ môi trường; đồng thời bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Mô hình phát triển mới được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, dựa trên nền quản trị quốc gia hiện đại và mối quan hệ hài hòa, hiệu quả giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.
Trong đó, đổi mới thể chế và quản trị quốc gia là khâu đột phá. Hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước được đánh giá bằng chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và năng lực phát hiện, xử lý, giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn.
Hình thành đồng bộ bảy mô hình phát triển thành phần
Nghị quyết đề ra các mục tiêu phát triển theo từng giai đoạn, gắn với những dấu mốc quan trọng của đất nước.
Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới, phù hợp với trình độ của nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.
Trong giai đoạn này, đất nước tập trung tạo đột phá về xây dựng, hoàn thiện thể chế; quản trị quốc gia hiện đại; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; hạ tầng chiến lược; năng lực tri thức quốc gia; nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Đến năm 2035, Việt Nam phấn đấu hoàn thành cơ bản quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; hình thành đồng bộ bảy mô hình phát triển thành phần trên các lĩnh vực.
Hình minh họa có sử dung AI
Thứ nhất, mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập. Nền kinh tế chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao.
Thứ hai, mô hình phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm và bền vững. Quản lý xã hội chuyển từ phương thức hành chính truyền thống và xử lý hậu quả sang quản trị phát triển chủ động, dựa trên dữ liệu, dự báo và phòng ngừa từ sớm, từ xa.
Thứ ba, mô hình phát triển văn hóa, con người toàn diện, hiện đại, sáng tạo, giàu bản sắc và nhân văn. Văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần, nguồn lực, động lực nội sinh và sức mạnh mềm của quốc gia; gắn với xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.
Thứ tư, mô hình phát triển môi trường sinh thái hiện đại, thông minh, bền vững và thích ứng. Việc quản trị tài nguyên, bảo vệ môi trường được thực hiện trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ, nền tảng số, dữ liệu liên thông và các công cụ giám sát hiện đại.
Thứ năm, mô hình quốc phòng, an ninh toàn dân, toàn diện, tự chủ, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo đảm giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Thứ sáu, mô hình đối ngoại và hội nhập quốc tế chủ động, toàn diện, hiệu quả, bản sắc, kiến tạo phát triển; nâng cao vai trò, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ bảy, mô hình quản trị quốc gia dân chủ, hiện đại, thông minh, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu hoàn thành chuyển đổi sang mô hình phát triển mới, trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao; có nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Tầm nhìn đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, giàu bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn.
Tập trung thực hiện bảy nhóm nhiệm vụ, giải pháp
Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định bảy nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu.
Hình minh họa có sử dụng AI
Trước hết là tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, đổi mới quản trị quốc gia và xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Thể chế phải thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh, giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển.
Trong lĩnh vực kinh tế, Nghị quyết đặt yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; phát triển các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng cao; thúc đẩy kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế dữ liệu và các không gian phát triển mới. Đồng thời, nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đối với lĩnh vực xã hội, nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng hệ thống chính sách xã hội hiện đại, bao trùm và bền vững; phát triển thị trường lao động linh hoạt, đồng bộ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; bảo đảm an sinh xã hội và cải thiện chất lượng sống của Nhân dân.
Trong lĩnh vực văn hóa, con người, Nghị quyết yêu cầu phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; thúc đẩy sáng tạo và lan tỏa văn hóa Việt Nam trong đời sống xã hội cũng như trên môi trường số.
Các nhiệm vụ về môi trường sinh thái tập trung vào sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai; thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển dịch năng lượng và phát triển các mô hình sản xuất, tiêu dùng bền vững.
Nghị quyết đồng thời xác định nhiệm vụ xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; chủ động nhận diện, phòng ngừa và xử lý hiệu quả các nguy cơ, thách thức đối với an ninh quốc gia.
Trong lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế, Việt Nam tiếp tục triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả; tranh thủ tối đa nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để phát triển đất nước.
Chính phủ tập trung triển khai thực hiện Chương trình hành động
Cụ thể hóa Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 6/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 217/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Nghị quyết số 217/NQ-CP yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước xây dựng chương trình hoặc kế hoạch thực hiện, hoàn thành và báo cáo Chính phủ trong tháng 8/2026.
Chương trình, kế hoạch phải bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; tăng cường giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động, phát huy tinh thần nỗ lực, chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết.
Phân công rõ trách nhiệm, rõ nguồn lực, tiến độ và các điều kiện cần thiết để thực hiện, gắn với trách nhiệm người đứng đầu và cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên; kịp thời phát hiện, tuyên truyền, nhân rộng các mô hình mới, cách làm hay, hiệu quả cao; chấn chỉnh những nơi thực hiện Nghị quyết chưa tốt.
Chương trình hành động xác định 40 chỉ tiêu cụ thể trong các lĩnh vực: Thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị (4 chỉ tiêu); kinh tế (14 chỉ tiêu); xã hội (8 chỉ tiêu); văn hóa, con người (4 chỉ tiêu); môi trường sinh thái (5 chỉ tiêu); quốc phòng, an ninh (4 chỉ tiêu); đối ngoại và hội nhập quốc tế (1 chỉ tiêu).
Các bộ, cơ quan, địa phương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ chỉ đạo cụ thể hoá các chỉ tiêu theo ngành, lĩnh vực cụ thể và thể hiện trong chương trình hành động/kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết và Chương trình hành động này.
Hương Huyền



