Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới

1 ngày trước |   Lượt xem: 82 |   In bài viết | 

Nghị quyết đánh giá, qua 4 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới, nhận thức và hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng tiếp tục được đổi mới, từng bước đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước. Tư duy, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo có nhiều đột phá; Trung ương tập trung vào những vấn đề chiến lược, chủ trương, chính sách lớn, việc khó, việc mới, việc nghẽn kéo dài.

Việc xây dựng Nghị quyết, chủ trương xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp gắn với tầm nhìn dài hạn và mục tiêu chiến lược của đất nước; tổ chức thực hiện Nghị quyết gắn với kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả. Lãnh đạo thông qua công tác tổ chức, cán bộ, tư tưởng, tuyên truyền, vận động, kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực và nêu gương tiếp tục được chú trọng. Tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, dự báo chiến lược, chuyển đổi số, cải cách hành chính trong Đảng được đẩy mạnh.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Nghị quyết cũng chỉ ra một số hạn chế trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền; việc phân định vai trò lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý, điều hành của Nhà nước có lúc, có nơi chưa rõ; phân cấp, phân quyền chưa gắn với nguồn lực và kiểm soát quyền lực. Năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết, chủ trương ở một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu còn hạn chế.

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Trước yêu cầu phát triển mới, Nghị quyết xác định cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Về quan điểm, Nghị quyết nhấn mạnh việc kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữ vững bản chất, mục tiêu, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng.

Đồng thời, phương thức lãnh đạo, cầm quyền có vai trò đặc biệt quan trọng trong chuyển hóa tầm nhìn, mục tiêu, đường lối của Đảng thành kết quả thực tiễn; Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chủ trương, đường lối, nghị quyết; công tác tư tưởng; công tác tổ chức, cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật; thông qua tổ chức đảng và đảng viên.

Nghị quyết xác định mục tiêu đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ, tạo chuyển biến căn bản về chất lượng, hiệu lực, hiệu quả phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng theo hướng thực chất, dân chủ, pháp quyền, hiện đại, vì lợi ích quốc gia - dân tộc và vì Nhân dân.

Đến năm 2030, hoàn thiện, vận hành nền nếp, hiệu quả các phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, gắn với mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Chủ trương của Đảng được thể chế hóa đồng bộ, kịp thời, khả thi; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; khắc phục triệt để tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

Đến năm 2045, phương thức lãnh đạo, cầm quyền thực sự khoa học, dân chủ, pháp quyền, hiện đại, thích ứng cao, phù hợp với quản trị quốc gia tiên tiến, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.

Bảy nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Để thực hiện các mục tiêu đề ra, Nghị quyết xác định 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu.

Thứ nhất, đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức và vận hành hiệu quả phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Tập trung đổi mới tư duy lãnh đạo, cầm quyền, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; không bao biện, làm thay, buông lỏng lãnh đạo.

Thống nhất nhận thức, vận hành thực chất cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đảng xác định đường lối, định hướng chiến lược, quyết định vấn đề lớn theo thẩm quyền; không hành chính hóa sự lãnh đạo, không bao biện, làm thay hoặc can thiệp trái quy định vào quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước.

Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện, làm rõ nội hàm, mối quan hệ giữa lãnh đạo và cầm quyền; nâng cao chất lượng toàn bộ chu trình lãnh đạo, từ ban hành chủ trương, tổ chức thực hiện đến kiểm tra, giám sát, đánh giá và điều chỉnh chính sách.

Thứ hai, nâng cao chất lượng hoạch định chủ trương, quyết sách; đổi mới việc ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết.

Nghị quyết yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng hoạch định chủ trương, đường lối, định hướng chiến lược; khắc phục tình trạng nghị quyết, chủ trương lớn phải lấy ý kiến rộng rãi trong Nhân dân, các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp. Chương trình, kế hoạch hành động thực hiện phải khoa học, khả thi, rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ sản phẩm, được xây dựng đồng thời với dự thảo nghị quyết.

Văn bản của Đảng phải ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá; có quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp, trách nhiệm. Chỉ ban hành văn bản mới khi thật sự cần thiết; thường xuyên rà soát, tích hợp, sửa đổi, thay thế, bãi bỏ văn bản chồng chéo, không còn phù hợp.

Bên cạnh đó, nâng cao năng lực thể chế hóa và tổ chức thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm của tập thể, cá nhân, người đứng đầu.

Đánh giá tổ chức, người đứng đầu bằng sản phẩm, hiệu quả công việc và dữ liệu có kiểm chứng; kết hợp đánh giá định tính với định lượng, không tuyệt đối hóa chỉ số, kết quả ngắn hạn.

Nghị quyết cũng yêu cầu hoàn thiện phương thức cầm quyền, phát huy đầy đủ vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.

Hoàn thiện quy định, quy chế phối hợp, quan hệ công tác giữa cấp ủy, tổ chức đảng với cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ.

Thứ ba, đổi mới công tác tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục, vận động; phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân.

Đổi mới công tác tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục, vận động theo hướng sâu sắc, sát đối tượng, sát thực tiễn; tăng cường đối thoại, thuyết phục; chủ động cung cấp thông tin, định hướng dư luận, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận xã hội.

Phát huy vai trò của văn hóa, văn học, nghệ thuật, sản phẩm truyền thông trong bồi đắp giá trị, củng cố niềm tin xã hội; học tập, quán triệt nghị quyết phải thiết thực, gắn với chức trách, nhiệm vụ; chú trọng tinh thần hành động của từng tổ chức, cá nhân.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo có kiểm soát để nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, Nhân dân; thiết lập kênh tiếp nhận, xử lý, phản hồi ý kiến Nhân dân, doanh nghiệp. Thực hiện hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, bảo đảm Nhân dân thực sự là chủ thể, là trung tâm, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân.

Đồng thời, đổi mới toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền trên báo chí, nền tảng số; kiện toàn đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cơ quan báo chí đáp ứng yêu cầu mới; xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, đổi mới, hoàn thiện đồng bộ, toàn diện công tác tổ chức, cán bộ.

Tiếp tục thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác tổ chức và quản lý cán bộ của hệ thống chính trị; hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, quan hệ công tác của các cơ quan, tổ chức gắn với xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại và kiểm soát chặt chẽ quyền lực.

Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân định rõ thẩm quyền lãnh đạo với thẩm quyền quản lý, điều hành; hoàn thiện phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở gắn với đổi mới quản trị cơ sở theo hướng hiện đại.

Đồng thời, đổi mới tư duy lãnh đạo công tác cán bộ; hoàn thiện đồng bộ các khâu công tác cán bộ; coi trọng chất lượng, hiệu quả công việc, sản phẩm đầu ra; tăng cường bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.

Thứ năm, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn với kiểm soát quyền lực, chủ động phòng ngừa và cảnh báo sớm.

Các cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát gắn với kiểm soát quyền lực; chủ động phòng ngừa, cảnh báo sớm vi phạm.

Tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin giữa cơ quan kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán, điều tra và các cơ quan liên quan; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng hệ thống cảnh báo dựa trên dữ liệu.

Thứ sáu, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; thực hành văn hóa Đảng và chuẩn mực đạo đức cách mạng.

Thực hiện nghiêm quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; chú trọng xây dựng văn hóa Đảng, văn hóa liêm chính, trách nhiệm phục vụ Nhân dân.

Thực hành văn hóa Đảng, văn hóa liêm chính, trách nhiệm phục vụ Nhân dân; lấy kết quả thực hành văn hóa, đạo đức, liêm chính làm căn cứ quan trọng đánh giá tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

Thứ bảy, đổi mới phong cách, phương pháp, lề lối làm việc; đẩy mạnh chuyển đổi số, điều hành dựa trên dữ liệu.

Đổi mới phong cách lãnh đạo theo phương châm khoa học, chủ động, tham mưu đúng, bài bản, sát cơ sở, kịp thời nắm bắt, giải quyết khó khăn, vướng mắc phát sinh. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, đổi mới chế độ báo cáo, giảm số lượng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hội họp.

Đặc biệt, Nghị quyết yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số trong Đảng; xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược, xử lý công việc hằng ngày. Chuẩn hóa, liên thông dữ liệu tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ; kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia. Nâng cao năng lực số của cán bộ, đảng viên; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ mới hỗ trợ tham mưu, phân tích, dự báo, theo dõi tiến độ.

Việc quản lý, sử dụng dữ liệu phải gắn với bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật, chủ quyền dữ liệu; không phát sinh thủ tục không cần thiết.

Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, cơ quan chủ trì, thời gian, sản phẩm.

Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, các ban, cơ quan, đơn vị của Đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội căn cứ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cụ thể hóa Nghị quyết thành kế hoạch, tập trung vào khâu yếu, việc khó, điểm nghẽn; người đứng đầu chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện trong phạm vi quản lý.

Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ theo chức năng, thẩm quyền lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, thể chế hóa kịp thời Nghị quyết; hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ với chủ trương của Đảng, phát huy tính chủ động, trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong tổ chức thực hiện.

Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với cơ quan tham mưu, giúp việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng rà soát, tham mưu sửa đổi, bổ sung quy định, quy chế liên quan; theo dõi, đôn đốc, định kỳ đánh giá thực hiện Nghị quyết; báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư, kịp thời đề xuất xử lý vấn đề phát sinh.

Nghị quyết cũng yêu cầu các cấp ủy tiếp tục cụ thể hóa các nghị quyết, quy định, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có liên quan; chủ động rà soát nội dung không còn phù hợp, đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế khi cần thiết.

Nghị quyết số 29-NQ/TW được phổ biến đến chi bộ.

Hương Huyền