Hoàn thiện nền tảng pháp lý cho chính sách dân tộc trong giai đoạn mới
1 ngày trước | Lượt xem: 136 In bài viết |Sau nhiều năm triển khai Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 127/2024/NĐ-CP và Nghị định số 124/2025/NĐ-CP, thực tiễn công tác dân tộc, hệ thống pháp luật và mô hình quản lý nhà nước đã có nhiều thay đổi. Việc xây dựng Nghị định mới về công tác dân tộc không chỉ nhằm kế thừa, hoàn thiện các quy định hiện hành mà còn hướng tới thiết lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp hơn để tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, phát huy nội lực của đồng bào dân tộc thiểu số và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã xây dựng hồ sơ dự thảo Nghị định mới về công tác dân tộc để lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, ban hành. Dự thảo được xây dựng để thay thế khuôn khổ pháp lý hiện hành gồm Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 127/2024/NĐ-CP và Nghị định số 124/2025/NĐ-CP.
Việc xây dựng Nghị định mới được tiến hành trên cơ sở tổng kết quá trình thi hành, rà soát hệ thống pháp luật có liên quan và đánh giá những yêu cầu mới đặt ra đối với công tác dân tộc.
Khuôn khổ pháp lý quan trọng của công tác dân tộc
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chiếm gần 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước, có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; đồng thời có tiềm năng lớn về tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và bảo vệ bền vững môi trường sinh thái.
Chính vì vậy, công tác dân tộc không đơn thuần là việc triển khai một số chính sách hỗ trợ đối với vùng khó khăn, mà là một lĩnh vực quản lý nhà nước có phạm vi rộng, liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh và nhiều lĩnh vực khác.
Dự thảo Nghị định xác định công tác dân tộc bao gồm hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc và tổ chức thực thi chính sách dân tộc nhằm tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, bảo đảm bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Các nguyên tắc xuyên suốt được đặt ra là bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển; phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tạo điều kiện để đồng bào phát huy nội lực, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, chủ động vươn lên cùng phát triển đất nước; đồng thời giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phong tục, tập quán, truyền thống và những giá trị văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc.
Ở góc độ quản lý nhà nước, Nghị định có vai trò tạo khuôn khổ chung để chính sách dân tộc được tổ chức thực hiện thống nhất. Trong điều kiện các nội dung liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được điều chỉnh bởi nhiều luật, nghị định, chương trình và chính sách chuyên ngành, một văn bản quy định về công tác dân tộc có ý nghĩa kết nối, xác định những nguyên tắc nền tảng, phạm vi quản lý, đối tượng áp dụng và trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Hơn 15 năm xây dựng và từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về công tác dân tộc
Nghị định số 05/2011/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 14/01/2011, tạo nền tảng pháp lý quan trọng đối với công tác dân tộc. Trong quá trình tổ chức thực hiện, Nghị định đã tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, trong đó có Nghị định số 127/2024/NĐ-CP và Nghị định số 124/2025/NĐ-CP. Do đó, quá trình hơn 15 năm vừa qua được nhìn nhận là quá trình triển khai và từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về công tác dân tộc.
Theo Báo cáo tổng kết, hệ thống quy định này đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng để từng bước nâng cao chất lượng công tác dân tộc, hoàn thiện pháp luật và triển khai chính sách dân tộc trên phạm vi toàn quốc, bao phủ nhiều lĩnh vực như phát triển kinh tế - xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, văn hóa, thể thao và du lịch, thông tin và truyền thông, bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước về công tác dân tộc.
Quá trình thực hiện cũng gắn với việc tiếp tục cụ thể hóa, điều chỉnh các chính sách. Báo cáo tổng kết cho biết Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã tập trung tham mưu sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định vào năm 2024; đồng thời tham mưu trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản để triển khai các chính sách liên quan một cách thống nhất, đồng bộ.
Cùng với các chương trình, chính sách của Đảng và Nhà nước, hạ tầng thiết yếu vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi từng bước được tăng cường, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào được cải thiện.
Công tác tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện cũng được triển khai rộng tại nhiều địa phương. Trong giai đoạn 2021-2025, Nghệ An đã tổ chức 143 hội nghị với 14.047 lượt đại biểu; Cao Bằng tổ chức 5.964 hội nghị, tập huấn với 750.498 lượt người tham gia; thực hiện 504 chuyên đề tuyên truyền bằng tiếng Việt, 144 chuyên đề bằng tiếng dân tộc thiểu số và phát hành 130.719 tờ rơi, tờ gấp.
Những kết quả này cho thấy vai trò của khuôn khổ pháp lý về công tác dân tộc trong việc nâng cao nhận thức, xác định trách nhiệm của các cấp, các ngành và tạo cơ sở để tổ chức triển khai chính sách trên thực tế.
Cần một khuôn khổ pháp lý phù hợp với hệ thống pháp luật mới
Mặc dù Nghị định số 05 đã được sửa đổi, bổ sung trong quá trình thực hiện, tuy vậy, trong những năm gần đây, bối cảnh phát triển và hệ thống pháp luật đã thay đổi nhanh chóng, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện một cách tổng thể.
Theo Báo cáo tổng kết, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có những bước phát triển nhưng vẫn là khu vực còn nhiều khó khăn. Khoảng cách giàu nghèo với các vùng phát triển có xu hướng giãn rộng, nhiều khu vực vẫn là “lõi nghèo” của cả nước, tỷ lệ tái nghèo còn cao; hạ tầng giao thông kết nối liên vùng vẫn là điểm nghẽn; nguồn nhân lực tại chỗ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Trong những năm gần đây, thiên tai, biến đổi khí hậu, mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán cũng tác động ngày càng mạnh tới đời sống và sinh kế của người dân.
Điều đó cho thấy yêu cầu đối với chính sách dân tộc hiện nay đã có những thay đổi đáng kể. Chính sách không chỉ nhằm hỗ trợ khắc phục khó khăn mà còn cần tạo điều kiện để đồng bào phát huy nội lực, chủ động vươn lên; tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu; phát triển sinh kế bền vững và phân bổ nguồn lực phù hợp với điều kiện, đặc điểm, mức độ khó khăn của từng địa bàn, từng dân tộc.
Trong khi đó, từ năm 2011 đến nay, nhiều văn bản luật và quy định có liên quan trực tiếp đến công tác dân tộc đã được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung toàn diện, từ tổ chức Chính phủ, tổ chức chính quyền địa phương đến đầu tư công, ngân sách nhà nước, đất đai, lâm nghiệp, môi trường, y tế, giáo dục, văn hóa, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Những thay đổi này làm cho cấu trúc và một số nội dung của Nghị định số 05, kể cả sau quá trình sửa đổi, bổ sung, cần tiếp tục được tổng kết, rà soát để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành.
Chính vì vậy, yêu cầu hiện nay không chỉ là tiếp tục chỉnh sửa riêng lẻ một số quy định, mà cần xây dựng một Nghị định mới trên cơ sở kế thừa các nội dung còn phù hợp, đồng thời cấu trúc và hoàn thiện lại khuôn khổ pháp lý một cách tổng thể để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.
Bảo đảm thống nhất trong một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện
Quy mô rà soát phục vụ xây dựng dự thảo cho thấy tính liên ngành và phạm vi rộng của công tác dân tộc.
Theo Báo cáo rà soát của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, có 17 văn bản của Đảng có chủ trương, đường lối liên quan đến dự thảo cần được thể chế hóa. Cơ quan soạn thảo đồng thời rà soát 35 luật, 5 nghị quyết của Quốc hội, 24 nghị định, 2 nghị quyết của Chính phủ và 10 điều ước quốc tế có liên quan. Kết quả rà soát là cơ sở để bảo đảm dự thảo phù hợp với chủ trương của Đảng, thống nhất với hệ thống pháp luật và tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Những con số này cho thấy Nghị định về công tác dân tộc không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước. Việc ban hành văn bản mới vì vậy có ý nghĩa quan trọng trong xử lý những nội dung không còn phù hợp, hạn chế sự giao thoa, chồng chéo và xác định rõ hơn trách nhiệm thực hiện.
Đáp ứng yêu cầu của mô hình quản lý và phương thức phát triển mới
Một yêu cầu khác đặt ra đối với Nghị định mới là sự thay đổi của mô hình quản lý nhà nước.
Việc sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp làm thay đổi phương thức quản lý ở cơ sở. Sau sắp xếp, quy mô, cơ cấu dân số dân tộc thiểu số tại nhiều địa phương cũng thay đổi, đòi hỏi một phương thức điều hành công tác dân tộc mới, phù hợp hơn với tổ chức bộ máy và sâu sát hơn với cơ sở.
Cùng với đó là yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chuyển đổi số vừa phục vụ quản lý nhà nước, vừa có khả năng góp phần rút ngắn khoảng cách trong tiếp cận giáo dục, y tế, dịch vụ công, thị trường và cơ hội phát triển sản xuất.
Do đó, khuôn khổ pháp lý về công tác dân tộc cần thích ứng với phương thức quản trị mới, tạo cơ sở cho việc quản lý dữ liệu, xác định đúng địa bàn và đối tượng chính sách, theo dõi quá trình thực hiện cũng như đánh giá hiệu quả nguồn lực đầu tư.
Hướng nguồn lực đến đúng địa bàn, đúng đối tượng
Một trong những nội dung có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu quả chính sách được dự thảo Nghị định đặt ra là phân định địa bàn và xác định nhóm dân tộc cần được ưu tiên.
Theo dự thảo, việc phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm xác định địa bàn áp dụng chính sách dân tộc, chính sách an sinh xã hội, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và các chính sách khác của Nhà nước. Việc phân định được thực hiện theo từng thời kỳ, gắn với trình độ phát triển, điều kiện địa lý tự nhiên, hạ tầng, mức độ phát triển kinh tế và đặc thù từng vùng, miền, địa phương.
Dự thảo cũng quy định việc xác định dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù để làm cơ sở ưu tiên, tập trung nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện chính sách bảo tồn văn hóa, phát triển dân số, an sinh xã hội và các chính sách khác phù hợp với điều kiện, đặc điểm, mức độ khó khăn của từng dân tộc. Trong đó, dân tộc thiểu số rất ít người được xác định là dân tộc có số dân dưới 10.000 người theo dữ liệu quản lý dân cư.
Đây là cơ sở quan trọng để nguồn lực chính sách được tập trung hơn, phù hợp hơn với nhu cầu thực tế, hạn chế đầu tư dàn trải và nâng cao hiệu quả chính sách.
Dự thảo Nghị định đồng thời được xây dựng trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 88/2019/QH14 về Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 và Nghị quyết số 257/2025/QH15 về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035.
Một khuôn khổ pháp lý thống nhất về công tác dân tộc vì vậy có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ sở tổ chức thực hiện, phối hợp và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước trong giai đoạn tới.
Kế thừa để hoàn thiện thể chế về công tác dân tộc
Việc xây dựng Nghị định mới không phải là phủ nhận những giá trị và kết quả của Nghị định số 05 cùng các văn bản sửa đổi, bổ sung đã được thực hiện trong thời gian qua.
Bản so sánh, thuyết minh dự thảo cho thấy nhiều nguyên tắc cơ bản tiếp tục được kế thừa, như bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển; giữ gìn tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hóa. Đồng thời, nhiều nội dung được rà soát, điều chỉnh theo yêu cầu mới, trong đó nhấn mạnh hơn việc phát huy nội lực, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, chủ động vươn lên cùng phát triển đất nước.
Nhìn từ quá trình hơn 15 năm triển khai Nghị định số 05, qua các lần sửa đổi, bổ sung và thực tiễn tổ chức thực hiện, sự cần thiết của Nghị định mới nằm ở yêu cầu kế thừa nhưng phải đồng thời hoàn thiện: kế thừa những nguyên tắc, chính sách đã chứng minh giá trị; khắc phục những nội dung chưa phù hợp; cập nhật những thay đổi của hệ thống pháp luật, tổ chức bộ máy và yêu cầu phát triển.
Việc lấy ý kiến các bộ, ngành đối với dự thảo hiện nay là khâu quan trọng để tiếp tục rà soát tính thống nhất, khả thi và cơ chế tổ chức thực hiện trước khi Nghị định được trình cấp có thẩm quyền xem xét, ban hành.
Một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, rõ trách nhiệm, sát thực tiễn sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác dân tộc; đưa nguồn lực đến đúng địa bàn, đúng đối tượng; tạo thêm cơ hội phát triển cho đồng bào dân tộc thiểu số; bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn phát triển mới.
Thành Long

